close
Bước tới nội dung

Paolo Pulici

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Paolo Pulici
BERJAYA
Pulici với Torino mùa giải 1971–72
Thông tin cá nhân
Tên đầy đủ Paolino Pulici
Ngày sinh 27 tháng 4, 1950 (76 tuổi)
Nơi sinh Roncello, Ý
Chiều cao 1,77 m
Vị trí Tiền đạo cắm
Thông tin đội
Đội hiện nay
Tritium (trẻ)
Sự nghiệp cầu thủ trẻ
Năm Đội
?–1967 Legnano
1967–1968 Torino
Sự nghiệp cầu thủ chuyên nghiệp*
Năm Đội ST (BT)
1966–1967 Legnano 1 (0)
1967–1982 Torino 335 (134)
1982–1983 Udinese 26 (5)
1983–1985 Fiorentina 40 (3)
Tổng cộng 412 (142)
Sự nghiệp đội tuyển quốc gia
Năm Đội ST (BT)
1969–1972 U-21 Ý 9 (5)
1973–1978 Ý 19 (5)
Sự nghiệp huấn luyện
Năm Đội
1986–1989 Piacenza (trợ lý)
1990– Tritium (đội trẻ)
*Số trận ra sân và số bàn thắng ở câu lạc bộ tại giải quốc gia

Paolo Pulici (phát âm tiếng Ý: [ˈpaːolo ˈpuːlitʃi]; sinh ngày 27 tháng 4 năm 1950) là một huấn luyện viên bóng đá và cựu cầu thủ bóng đá người Ý từng thi đấu ở vị trí tiền đạo cắm. Với 172 bàn thắng trên mọi đấu trường, ông là cầu thủ ghi nhiều bàn nhất mọi thời đại của Torino.[1]

Ông có nhiều biệt danh; nổi tiếng nhất là Pupi và biệt danh do nhà báo Gianni Brera đặt cho ông, Puliciclone, một cách chơi chữ giữa họ PuliciCiclone, nghĩa là "lốc xoáy" trong tiếng Ý.[2] Ngoài ra, ông cùng đồng đội Francesco Graziani được gọi chung bằng biệt danh I gemelli del gol trong tiếng Ý, nghĩa là "Cặp song sinh bàn thắng". Ở cấp độ quốc tế, ông đại diện cho Ý tại hai kỳ Giải vô địch bóng đá thế giới, lần đầu là 1974, sau đó là 1978, nơi ông giúp đội tuyển cán đích ở vị trí thứ tư. Từ năm 1990, ông giảng dạy bóng đá tại Sportiva Tritium 1908Trezzo sull'Adda, tại trường bóng đá mang tên ông.[1]

Năm 2014, ông được vinh danh trong Đại sảnh Danh vọng Torino FC; ông là cầu thủ đầu tiên từng được bầu chọn và được đưa vào hạng mục "Tiền đạo".[3]

Sự nghiệp câu lạc bộ

[sửa | sửa mã nguồn]
BERJAYA
Pha đánh đầu của Pulici cho Torino năm 1975

Pulici sinh ngày 27 tháng 4 năm 1950 tại Roncello, khi đó là một thị trấn nhỏ thuộc tỉnh Milano, nay thuộc tỉnh Monza và Brianza. Ban đầu, ông được Inter Milan quan tâm, nhưng cuối cùng bị câu lạc bộ từ chối vì họ cho rằng khả năng dứt điểm chỉ bằng chân trái của ông không thể sánh với tiền đạo Sandro Mazzola.[4] Năm 1967, Torino chiêu mộ Pulici từ Legnano. Dưới quyền huấn luyện viên Edmondo Fabbri, ông ra mắt Torino trong mùa giải 1968–69 với tư cách cầu thủ đá chính ở trận hòa 0–0 trước Cagliari. Trong bốn mùa giải đầu tiên tại Torino, trong đó có ba mùa là cầu thủ đá chính, ông thi đấu 79 trận tại giải vô địch nhưng chỉ ghi chín bàn do hạn chế kỹ thuật và thiếu sự điềm tĩnh trước khung thành.[5]

Năm 1972, huấn luyện viên Gustavo Giagnoni loại Pulici khỏi đội hình xuất phát trong hai tháng, dành thời gian để ông rèn giũa kỹ thuật với sự hỗ trợ của các huấn luyện viên đội trẻ.[5] Trong mùa giải 1972–73, ông trở thành vua phá lưới Serie A với 17 bàn, ngang bằng Gianni RiveraGiuseppe Savoldi.[6] Ông lặp lại thành tích này ở mùa giải 1974–75 với 18 bàn và ở mùa giải 1975–76, khi ghi 21 bàn trong mùa giải Torino vô địch, thi đấu song hành cùng tiền đạo Francesco Graziani.[6] Cặp đôi này được gọi là "i gemelli del gol"[4][7][8] ("cặp song sinh bàn thắng"); bàn thắng của Pulici mang tính quyết định ở vòng đấu cuối mùa trước A.C. Cesena.[9]

Ông thi đấu cho Torino trong 14 mùa giải, ra sân 437 trận chính thức và ghi 172 bàn trên các đấu trường vô địch quốc gia và cúp. Bên cạnh Scudetto giành được ở mùa giải 1975–76, ông cùng đội kết thúc ở vị trí thứ hai tại mùa giải 1976–77 và giành một danh hiệu Coppa Italiamùa giải 1970–71.

Trong những năm sau đó, số bàn thắng của ông giảm dần, xuống mức thấp nhất là ba bàn ở mùa giải 1979–80, trùng với thời điểm huấn luyện viên trưởng Luigi Radice rời Torino. Năm 1982, ông được phép rời Torino theo dạng tự do,[10] chuyển đến Udinese; sau một mùa giải tại Friuli, ông gia nhập Fiorentina, nơi ông khép lại sự nghiệp cầu thủ.

Sự nghiệp quốc tế

[sửa | sửa mã nguồn]
BERJAYA
Pulici (phải) và Giorgio Chinaglia trong màu áo Ý năm 1973

Pulici ra mắt đội tuyển quốc gia vào ngày 30 tháng 3 năm 1973, trong chiến thắng 5–0 trước Luxembourg ở một trận vòng loại World Cup tại Genoa. Những bàn thắng đầu tiên của ông là một cú đúp vào ngày 30 tháng 12 năm 1975 trong chiến thắng giao hữu 3–2 trước Hy Lạp tại Firenze, ở lần khoác áo thứ bảy. Sau đó, ông tiếp tục ghi bàn trong hai trận kế tiếp, trước Bồ Đào Nha và Hoa Kỳ.[11]

Tổng cộng, ông thi đấu 19 trận và ghi 5 bàn cho đội tuyển quốc gia Ý.[12] Ông góp mặt trong đội hình dự hai kỳ World Cup (19741978), nhưng không ra sân ở giải nào.[11] Ở cấp độ quốc tế, Pulici thường được bố trí đá cặp với Graziani. Do không thể lặp lại phong độ từng thể hiện tại Torino, ông thường bị thay thế bởi Roberto Bettega.[4]

Sự nghiệp huấn luyện

[sửa | sửa mã nguồn]

Sau khi giải nghệ, ông gia nhập ban huấn luyện Piacenza với vai trò trợ lý huấn luyện viên,[2] sau khi câu lạc bộ vùng Emilia liên hệ với ông để trở lại các hoạt động thể thao.[13] Từ năm 1986 đến năm 1988, ông làm việc bên cạnh huấn luyện viên Battista Rota, còn trong mùa giải 1988–89, ông tiếp tục đảm nhiệm vai trò trợ lý huấn luyện viên dưới quyền Enrico Catuzzi và sau đó là Attilio Perotti.[14]

Phong cách thi đấu

[sửa | sửa mã nguồn]

Là một tiền đạo thuận chân phải, giàu hiệu suất, bền bỉ và biết chớp thời cơ, Pulici cũng sử dụng chân trái thành thạo.[7] Là một cầu thủ nhanh, năng động và mạnh mẽ về thể chất,[5] ông đặc biệt xuất sắc trong không chiến và được biết đến nhờ khả năng ghi các bàn thắng giàu tính nhào lộn; ông cũng là một cầu thủ thực hiện phạt đền thành thạo.[5][15]

Danh hiệu

[sửa | sửa mã nguồn]
BERJAYA
Đội trưởng Torino Pulici được trao giải vua phá lưới Serie A

Torino[15]

Cá nhân

Tham khảo

[sửa | sửa mã nguồn]
  1. 1 2 "Paolino Pulici" (bằng tiếng Ý). Storie di Calcio. ngày 7 tháng 1 năm 2016. Truy cập ngày 23 tháng 3 năm 2016.
  2. 1 2 "Ve lo ricordate Paolino Pulici? Ecco come vive". corrieredellosport.it (bằng tiếng Ý). Il Corriere dello Sport. 2009. Bản gốc lưu trữ ngày 17 tháng 10 năm 2012. Truy cập ngày 23 tháng 4 năm 2014.
  3. 1 2 "Nasce la Hall of Fame del Toro: il 3 dicembre la cerimonia per i primi 5 granata indimenticabili" (bằng tiếng Ý). Il Quotidiano Piemontese. ngày 20 tháng 11 năm 2014. Truy cập ngày 23 tháng 3 năm 2016.
  4. 1 2 3 "PULICI – GRAZIANI : IN DUE PER UN GRANDE TORINO". Gol Calcio. Bản gốc lưu trữ ngày 12 tháng 8 năm 2011. Truy cập ngày 21 tháng 3 năm 2014.
  5. 1 2 3 4 Bacci, G. ECO Sport (biên tập). Il calcio dietro le quinte. tr. 65–66.
  6. 1 2 "Italy Top Scorers". RSSSF.
  7. 1 2 "ALL TOGHETER [sic] NOW". golcalcio.it (bằng tiếng Ý). Bản gốc lưu trữ ngày 20 tháng 1 năm 2009. Truy cập ngày 23 tháng 4 năm 2014.
  8. "Toro, Agroppi: "Vi racconto Gigi Meroni, il nostro George Best"" (bằng tiếng Ý). Toro News. ngày 12 tháng 10 năm 2017. Truy cập ngày 20 tháng 1 năm 2020.[liên kết hỏng vĩnh viễn]
  9. "Pulici e Graziani, i gemelli nostalgia". corriere.it (bằng tiếng Ý). Il Corriere della Sera. ngày 16 tháng 5 năm 2001. tr. 47. Truy cập ngày 23 tháng 4 năm 2014.
  10. "Novellino all'Ascoli, Maldera alla Roma?" (bằng tiếng Ý). La Stampa. 1982. tr. 17.
  11. 1 2 "Paolo Pulici". EU-Football.info.
  12. List of Italy appearances RSSSF
  13. P.Gentilotti; M.Molinaroli (tháng 12 năm 1991). Lo sai che i papaveri...1919–1991: il Piacenza Calcio tra cronaca e storia (bằng tiếng Ý). tr. 182.
  14. "Rosa Piacenza Calcio 1988/89". storiapiacenza1919.it. Truy cập ngày 23 tháng 4 năm 2014.
  15. 1 2 Gigi Garanzini. "PULICI, Paolo" (bằng tiếng Ý). Treccani: Enciclopedia dello Sport (2002). Truy cập ngày 11 tháng 2 năm 2016.
  16. Roberto Di Maggio; Igor Kramarsic; Alberto Novello (ngày 11 tháng 6 năm 2015). "Italy - Serie A Top Scorers". RSSSF. Truy cập ngày 2 tháng 12 năm 2015.

Liên kết ngoài

[sửa | sửa mã nguồn]

Bản mẫu:Đội hình Ý tại Giải vô địch bóng đá thế giới 1974 Bản mẫu:Đội hình Ý tại Giải vô địch bóng đá thế giới 1978