FIM-43 Redeye
| FIM-43 Redeye | |
|---|---|
Inert FIM-43 Redeye | |
| Loại | Tên lửa phòng không vác vai |
| Nơi chế tạo | Mỹ |
| Lược sử hoạt động | |
| Phục vụ | 1967–1995 |
| Sử dụng bởi | See operators |
| Trận | Chiến tranh Việt Nam Chiến tranh Liên Xô-Afghanistan Cách mạng Nicaragua Nội chiến Liban Nội chiến El Salvador |
| Lược sử chế tạo | |
| Người thiết kế | Convair |
| Năm thiết kế | 7/1959 |
| Nhà sản xuất | General Dynamics |
| Giai đoạn sản xuất | 1962–1973[1] |
| Số lượng chế tạo | 85.000 |
| Các biến thể | See variants |
| Thông số (FIM-43C) | |
| Khối lượng | 29 lb (13 kg) |
| Chiều dài | 49,7 in (1,26 m) |
| Đường kính | 2,75 in (70 mm) |
| Kíp chiến đấu | 2 (xạ thủ và nạp đạn)[2] |
| Tầm bắn hiệu quả | 1.600–18.000 ft (500–5.500 m)[3] |
| Đầu nổ | thuốc nổ mạnh văng mảnh[3] |
| Cơ cấu nổ | Ngòi nổ tiếp xúc[3] |
| Động cơ | Rocket, nhiên liệu rắn 2 động cơ (động cơ khởi tốc và động cơ hành trình) |
| Tốc độ | Mach 1,6 (544,46 m/s)[chuyển đổi: tùy chọn không hợp lệ][3] |
| Hệ thống chỉ đạo | đầu dò hồng ngoại thụ động |
| Tham khảo | [4] |
Hệ thống tên lửa phòng không vác vai General Dynamics FIM-43 Redeye, sử dụng đầu dò hồng ngoại để bắt bám mục tiêu. Hệ thống này được sản xuất kể từ năm 1962 và được nâng cấp cải tiến thành phiên bản Redeye II, chính là tên lửa FIM-92 Stinger – ngừng sản xuất cho quân đội Mỹ từ những năm 1970 (nhưng vẫn sản xuất để đáp ứng các đơn xuất khẩu cho đến năm 1973)[1][5] sau khi khoảng 85.000 quả đạn đã được chế tạo. Redeye đã được rút dần khỏi biên chế của quân đội Mỹ kể từ năm 1982 đến năm 1995 khi FIM-92 Stinger được triển khai. Ban đầu hệ thống này không được Mỹ cho phép bán ra nước ngoài để tránh việc hệ thống tên lửa rơi vào tay các tổ chức khủng bố. Tuy nhiên, sau khi lệnh cấm xuất khẩu được dỡ bỏ, vũ khí này chưa bao giờ thực sự được các phần tử khủng bố sử dụng để chống lại máy bay dân sự, trái ngược với các loại MANPADS khác. Mặc dù Redeye và 9K32 Strela-2 (SA-7) có nhiều điểm tương đồng, nhưng các tên lửa này không hoàn toàn giống nhau. Tuy nhiên, CIA đã kết luận rằng Liên Xô đã dựa trên các thông tin thu được về việc phát triển tên lửa Redeye để phát triển thành công tên lửa SA-7.[6]
Phát triển
[sửa | sửa mã nguồn]Sau khi chiến tranh thế giới 2 kết thúc
[sửa | sửa mã nguồn]Vào tháng 5 năm 1946, Ban Trang thiết bị của Bộ Chiến tranh đã đưa ra một báo cáo về tương lai của vũ khí bộ binh. Theo đó Ban này đã kêu gọi phát triển các loại vũ khí mới tốt nhất trên thế giới, đồng thời có thể tách thành các tải trọng không quá 25 pound (11 kg).[7] Khi xem xét vũ khí phòng không, họ kết luận rằng M45 Quadmount gắn bốn súng máy M2 Browning để phòng không sẽ không có khả năng đối phó với các máy bay có tốc độ và tầm bay cao trong tương lai. Quân đội Mỹ do đó đã đưa ra yêu cầu phát triển một loại vũ khí phòng không mới phù hợp cho các cuộc giao chiến ở khoảng cách từ 25 đến 2.500 thước Anh (23 đến 2.300 m) để chống lại các mục tiêu bay với tốc độ lên đến 1.000 dặm/giờ (1.600 km/h).[8]
Tháng 6 năm 1948, Quân đoàn Quân nhu Hoa Kỳ bắt đầu phát triển hệ thống phòng không mang tên "Stinger", về cơ bản là phiên bản nâng cấp từ Quadmount khi gắn bốn súng máy T17 bắn loại đạn 0.60 mạnh hơn và ngắm mục tiêu bằng hệ thống radar tự động. Việc phát triển hệ thống này tiếp tục cho đến năm 1951, khi yêu cầu được mở rộng lên 14.000 feet (4.300 m), điều mà loại đạn 0.60 không thể đáp ứng được. Ý định sử dụng pháo revolver bắn loại đạn 37 mm mới nhưng tỏ ra quá phức tạp và đã bị hủy bỏ.[8]
Chương trình Porcupine và Octopus
[sửa | sửa mã nguồn]Tại Hội nghị Ba bên diễn ra tại Luân Đôn năm 1950, Mỹ, Anh và Pháp đã thống nhất rằng M2 Browning sẽ vẫn đáp ứng được phần nào về nhu cầu phòng không tầm thấp cho đến khoảng năm 1960, nhưng cần có vũ khí mới sau thời điểm đó. Điều này dẫn đến việc phát triển các khái niệm Porcupine và Octopus ở Mỹ. Chương trình Porcupine, bắt đầu vào năm 1951, là một bệ phóng tên lửa 64 nòng bắn loạt tên lửa không đối đất cánh gập (FFAR) 2,75 inch (7,0 cm) với tốc độ hiệu quả là 6.000 viên đạn mỗi phút. Hệ thống này chưa bao giờ được chế tạo hoàn chỉnh và bị hủy bỏ vào tháng 2 năm 1956. Còn chương trình phát triển hệ thống Octopus, bắt đầu từ năm 1953, đã xem xét sử dụng các loại đạn .50 và .60, cũng như loại đạn 20 mm mới. Dự án này cũng gặp thất bại trong việc tạo ra hệ thống phòng không hoàn chỉnh theo yêu cầu.[9]
Đến giữa những năm 1950, các tên lửa đất đối không (SAM) tầm trung và tầm cao mới đã khiến việc bay ở độ cao lớn ngày càng trở nên nguy hiểm, và máy bay tấn công giờ đây phải bay ở độ cao thấp. Điều này dẫn đến yêu cầu năm 1954 về một hệ thống phòng không hạng nhẹ có khả năng tấn công các mục tiêu bay từ độ cao 0 đến 1.000 ft (300 m), và các loại vũ khí lớn hơn có thể nâng độ cao lên 10.000 ft (3.000 m). Để cải thiện khả năng hoạt động trong điều kiện tầm nhìn kém, người ta đề xuất rằng hệ thống vũ khí phòng không mới sẽ sử dụng đầu dò hồng ngoại.[10]

Chương trình Redeye
[sửa | sửa mã nguồn]Năm 1955, Convair, vừa được General Dynamics mua lại, đã bắt đầu tiến hành nghiên cứu phát triển hệ thống đáp ứng yêu cầu của Lục quân Mỹ.[10] Khi các nghiên cứu ban đầu cho thấy kết quả khả quan, vào tháng 1 năm 1956, công ty đã bắt đầu một nghiên cứu kéo dài 11 tháng về hệ thống vũ khí được đặt tên là "Redeye" do đầu dò hồng ngoại của nó. Để giảm chi phí nguyên mẫu, tên lửa ban đầu sẽ dựa trên rocket Folding-Fin Aerial Rocket (FFAR) (rocket hàng không cánh gấp) không điều khiển, vốn đã được sản xuất rộng rãi. Đạn rocket sẽ được sửa đổi bằng cách thay thế đầu đạn nổ tiếp xúc bằng một hệ thống đầu dò mới và đầu đạn nhỏ hơn nặng 1,2 pound (0,54 kg).[11] Nguyên mẫu của Convair ban đầu sử dụng phiên bản thu nhỏ của đầu dò tên lửa không đối không AIM-9 Sidewinder và có kích thước nhỏ, nặng 14,5 lb (6,6 kg), tay cầm/ống phóng nặng 3,2 lb (1,5 kg). Tổng trọng lượng của nguyên mẫu là 18,2 lb (8,3 kg), trong khi chi phí cho mỗi hệ thống ban đầu được ước tính là 700 đô la (tương đương 8.289 đô la vào năm 2025) so với khoảng 3000 đô la (tương đương 35.526 đô la vào năm 2025) cho một tên lửa Sidewinder.[12]
Các mô hình ý tưởng thu được đã được trình diễn cho Lục quân và Thủy quân lục chiến Hoa Kỳ vào tháng 11 năm 1956. Mô phỏng cho thấy nó sẽ có khoảng cách trượt trung bình từ 4 đến 8 feet (1,2 đến 2,4 m) và xác suất trúng đích trực tiếp là 0,35 đến 0,40.[11] Thiết kế này tỏ ra rất hứa hẹn, và vào năm 1957, các yêu cầu chính thức đã được đưa ra. Điều này dẫn đến việc Kho vũ khí Redstone của Lục quân nhận được một số đề xuất không được yêu cầu về các loại vũ khí tương tự từ các công ty khác:[13]
- Lancer, một hệ thống tên lửa đất đối không có thể di chuyển một phần, được vận hành bởi kíp lái, do Drone and Missile Flight Control Department[a] (Bộ phận Điều khiển Bay Tên lửa và Máy bay không người lái) của Sperry Gyroscope, Garden City, New York
- SLAM (Shoulder-Launched Antiaircraft Missile- Tên lửa Chống máy bay Vác vai), một hệ thống tên lửa đất đối không vác vai, được thiết kế bởi bộ phận Autonetics của North American Aviation, Downey, California
- một hệ thống không được chỉ định của Lockheed Missile Systems Division, Sunnyvale, California (Đại tá James E. Linka, một sĩ quan giám sát của OCRD Air Defense and Missiles Division, chịu trách nhiệm về Stinger, sau này nhớ lại rằng Lockheed đã tham gia cuộc thi chọn ra hệ thống vũ khí phòng không vào năm 1959, nhưng không có chi tiết nào được tiết lộ.)[14]
Các thiết kế cạnh tranh đã bị từ chối vì quá nặng, trong khi các kỹ sư của Lục quân Hoa Kỳ cho rằng mặc dù thiết kế Redeye là triển vọng nhất, nhưng nó cũng cần nghiên cứu thêm đáng kể về đầu dò hồng ngoại trước khi quá trình phát triển có thể bắt đầu. Họ cũng kết luận rằng việc cải tiến bộ tìm kiếm hồng ngoại (và việc tăng trọng lượng sau này) là cần thiết để hệ thống hoạt động như đã nêu trong đề xuất. Convair phản đối đánh giá của Lục quân Mỹ, tuyên bố rằng họ đã thực hiện nghiên cứu chuyên sâu một cách bí mật, trong khi Thủy quân lục chiến Hoa Kỳ tỏ ra quan tâm hơn với Redeye và khẳng định rằng vũ khí này đã sẵn sàng để đi vào giai đoạn phát triển, đề nghị khoản tài trợ ban đầu là 1 triệu đô la (tương đương 11.803.354,78 đô la vào năm 2025) để đẩy nhanh chương trình.[12][15]
Ngày 14 tháng 4 năm 1958, hợp đồng phát triển đã được công bố và Convair được trao hợp đồng để bắt đầu phát triển hệ thống vũ khí phòng không vác vai.[16]
Thử nghiệm
[sửa | sửa mã nguồn]Thiết kế ban đầu bao gồm một ống đơn giản với hệ thống kẹp. Xạ thủ chỉ cần hướng ống phóng về phía mục tiêu và bắn khi nghe thấy bộ phận tìm kiếm phát ra âm thanh, cho biết tên lửa đã khóa mục tiêu. Vào tháng 5 năm 1958, sáu lần phóng tên lửa không điều khiển đã được Thủy quân lục chiến Hoa Kỳ thực hiện tại bãi thử nghiệm Twentynine Palms và Trại Pendleton, California, để đánh giá các yếu tố con người và công thái học của vũ khí mới, cũng như khả năng của một binh sĩ trong việc ngắm và phóng tên lửa trên vai một cách an toàn và chính xác về phía một mục tiêu tưởng tượng. Vào tháng 6 năm 1958, giai đoạn thử nghiệm bay của chương trình để chứng minh tính khả thi đã bắt đầu.[17]

Các lần phóng thử nghiệm đầu tiên được thực hiện với tên lửa không điều khiển, trong khi vào tháng 3 năm 1959, các thử nghiệm đầu tiên với tên lửa có điều khiển đã được tiến hành. Sau khi các thử nghiệm này chứng minh rằng khái niệm cơ bản là khả thi, giai đoạn phát triển kỹ thuật bắt đầu vào tháng 10 năm 1960. Convair đã ký hợp đồng với Tập đoàn Philco và Tập đoàn Nghiên cứu Đại Tây Dương để lần lượt làm việc về việc phát triển đầu dò và động cơ tên lửa hai tầng.[18]
Đánh giá của Lục quân Hoa Kỳ đã chứng minh tính đúng đắn: quá trình phát triển khó khăn hơn dự kiến, kéo dài đến bảy năm, chi phí nghiên cứu tăng gấp ba lần, và trọng lượng của tên lửa Redeye tăng từ 18,2 lb (8,3 kg) lên 29,3 lb (13,3 kg). Các thử nghiệm ban đầu cũng cho thấy các vấn đề về kỹ thuật với hệ thống đẩy và cánh đuôi bật ra. Hiệu suất của bộ dò hồng ngoại chì sunfua không có làm mát cũng gây thất vọng, với dải nhạy 2−2,7μm, nó chỉ có thể khóa mục tiêu vào khí thải nóng của máy bay phản lực, khiến tên lửa chỉ có thể nhắm vào đuôi máy bay. Sau khi thử nghiệm với hệ thống làm mát nhiệt điện và đầu dò làm mát bằng khí do Hughes Aircraft Company thiết kế, Lục quân Hoa Kỳ cuối cùng đã quyết định từ bỏ các bộ dò không làm mát để chuyển sang sử dụng đầu dò làm mát bằng khí thế hệ tiếp theo, giúp tên lửa có khả năng nhắm mục tiêu vào các bộ phận khác của máy bay ngoài phần đuôi. Một thay đổi khác được đưa ra trong quá trình phát triển là việc biến báng cầm có thể tháo rời và ống phóng thành một khối duy nhất. Sau khi bắn, ống phóng này có thể được nạp lại tại kho tiếp tế gần nhất tối đa tám lần. Các vấn đề ban đầu dần được giải quyết vào năm 1963. Cũng trong năm 1963, 75 lần phóng thử nghiệm đã được thực hiện nhằm vào máy bay không người lái, với lần bắn trúng thành công đầu tiên được ghi nhận vào ngày 14 tháng 12 năm 1962, tiêu diệt một máy bay không người lái phản lực Grumman F9F Panther đang bay với tốc độ 275 hải lý/giờ (509 km/giờ; 316 dặm/giờ). Vào tháng 10 năm 1963, 13 tên lửa đã được bắn thử, với 11 lần bắn trúng trực tiếp trong khi hai lần còn lại bắn trúng trong phạm vi 1 ft (0,30 m) từ nguồn nhiệt. Những thành công này đã thuyết phục thành công Lục quân Hoa Kỳ để chấp nhận bắt đầu giai đoạn công nghiệp hóa của chương trình.[19]

Việc sản xuất hạn chế bắt đầu vào tháng 6 năm 1963 với tên gọi XM41 Redeye Block I. Tên lửa được đặt tên là XMIM-43A và bao gồm đầu dò làm mát bằng nhiệt điện Mod 60. Sau đó, 300 hệ thống đã được sản xuất để quân đội đánh giá từ tháng 9 năm 1965 đến tháng 5 năm 1966. Sau khi các tên lửa Block I được sử dụng hết trong các thử nghiệm, các hệ thống cải tiến được sản xuất với tên gọi XM41E1 Block II, tên lửa được cải tiến được đặt tên là XMIM-43B và có đầu dò hồng ngoại làm mát bằng khí Mod 60A. Việc bàn giao các tên lửa Block I bắt đầu vào tháng 4 năm 1966. Vào tháng 2 năm 1967, những tên lửa Block II đầu tiên được giao cho các đơn vị Lục quân Hoa Kỳ để làm quen. Tổng cộng có 1.743 tên lửa XFIM-43B đã được chế tạo cho các thử nghiệm kỹ thuật và huấn luyện trong quân đội.[20]
Cấu hình cải tiến cuối cùng là M41 Block III, là một thiết kế gần như lại từ đầu của Redeye. Tên lửa FIM-43C vẫn giữ nguyên đầu dò làm mát bằng khí từ tên lửa Block II, nhưng tích hợp các thành phần và thiết bị điện tử mới, bao gồm động cơ tên lửa M115 mới và được cải tiến, và đầu đạn M222. Ống phóng tên lửa M171 mới được trang bị kính ngắm quang học được thiết kế có thể gập lại.[20] Tên lửa Block III có khả năng chịu quá tải tới 3g. Tên lửa đạt được xác suất tiêu diệt máy bay F9F Panther di chuyển với tốc độ 490 mph (800 km/h) ở độ cao 330 ft (100 m) là 51%. Từ đó, người ta tính toán được xác suất tiêu diệt máy bay Mikoyan-Gurevich MiG-21 ở độ cao tương tự sẽ là 40,3%, và 53% đối với máy bay trực thăng (cụ thể là Mil Mi-6 và H-13 và H-21 của Mỹ). Xác suất tiêu diệt máy bay cánh quạt lớn hơn như Antonov An-12 được ước tính là 43%.[21] Việc sản xuất các hệ thống M41 Block III bắt đầu vào tháng 5 năm 1967, với những đợt giao hàng đầu tiên cho Lục quân Hoa Kỳ và Thủy quân lục chiến Hoa Kỳ bắt đầu vào tháng 3 năm 1968, nhưng nó chỉ được phép sử dụng trong điều kiện khí hậu khắc nghiệt vào tháng 10 năm 1968. Vào ngày 18 tháng 12 năm 1968, M41 Block III được chính thức tiêu chuẩn hóa thành FIM-43C, chậm khoảng sáu năm so với kế hoạch.[20]
Mô tả
[sửa | sửa mã nguồn]
Tên lửa được phóng từ bệ phóng tên lửa M171. Đầu tiên, đầu dò được làm mát đến nhiệt độ hoạt động và sau đó người vận hành bắt đầu theo dõi mục tiêu bằng mắt thường bằng cách sử dụng thiết bị ngắm trên bệ phóng. Khi tên lửa khóa mục tiêu, một còi báo động trong tay cầm của bệ phóng bắt đầu rung, cảnh báo cho xạ thủ. Sau đó, xạ thủ nhấn cò, kích hoạt tầng khởi tốc và phóng tên lửa ra khỏi ống phóng với tốc độ khoảng 80 feet mỗi giây (25 m/s). Khi tên lửa rời khỏi ống phóng, các cánh ổn định lò xo bật ra - bốn cánh ổn định đuôi ở phía sau tên lửa và hai bề mặt điều khiển ở phía trước tên lửa. Khi tên lửa bay được 6 mét, động cơ bay hành trình được kích hoạt. Động cơ bay hành trình sẽ đưa tên lửa đạt vận tốc cực đại Mach 1,7 trong 5,8 giây. Đầu đạn được kích hoạt 1,2 giây sau khi động cơ hành trình được kích hoạt.[21]
Các nguyên mẫu ban đầu sử dụng đầu dò tên lửa không làm mát nên chỉ có khả năng thu nhận và theo dõi mục tiêu nhờ luồng khí thải nóng của máy bay mục tiêu, điều này hạn chế khiến tên lửa chỉ có thể bay bám đuôi. FIM-43C sử dụng đầu dò làm mát bằng khí thế hệ thứ hai, không chỉ có thể khóa vào phần đuôi của máy bay phản lực địch mà còn cả các phần khác cũng phát ra tia hồng ngoại của máy bay, khiến nó có khả năng bắn máy bay từ các góc độ trực diện hay cạnh bên. Đầu dò FIM-43C đủ nhạy để khóa mục tiêu bay là máy bay hạng nhẹ chạy bằng cánh quạt, nhưng đầu dò vẫn hiệu quả nhất khi khóa vào phía sau máy bay phản lực địch. Xác suất trúng đích được ước tính là 30% đối với máy bay phản lực cơ động, hiệu suất cao và 50% đối với các mục tiêu di chuyển chậm hơn như máy bay trực thăng.[22]
Các phiên bản
[sửa | sửa mã nguồn]
- Block I FIM-43, XM-41 − Bao gồm bệ phóng tên lửa dẫn đường XFIM-43A XM-147 và ống chứa/ vận chuyển và lưu trữ XM-147 TRIPAK. Tên lửa được trang bị đầu dò hồng ngoại chì sunfua (PbS) làm mát bằng pin nhiệt điện Mod 60. Hệ thống làm mát bằng pin nhiệt điện được cho là không đủ khả năng chống nhiễu hồng ngoại và đã bị loại bỏ để thay thế bằng hệ thống làm mát bằng chất siêu lạnh trong các biến thể sau này.[23]
- Block II FIM-43B, XM-41E1 – Phiên bản cải tiến được sửa đổi để tăng hiệu suất và tạo điều kiện thuận lợi cho sản xuất hàng loạt. Các thành phần chính là tên lửa có đầu tự dẫn hồng ngoại XFIM-43B, bệ phóng XM-147E1 và thùng chứa vận chuyển và lưu trữ XM-547E1 TRIPAK. Tên lửa được trang bị đầu dò làm mát bằng khí Mod 60A với đầu đạn và ngòi nổ được cải tiến. Bệ phóng có khả năng bắn tên lửa huấn luyện XM-44E1.[24]
- Block III FIM-43C, XM-41E2 – Phiên bản được đưa vào sản xuất loạt. Bệ phóng XM-171, sử dụng kính ngắm mở thay cho kính ngắm quang học đắt tiền và các thiết bị điện tử mới để cải thiện độ tin cậy và dễ dàng sản xuất hàng loạt.[25] Tên lửa FIM-43C tích hợp đầu dò làm mát bằng khí Mod 60A, đầu đạn M222 mới và động cơ tên lửa XM-115 được cải tiến.[20] Thùng chứa và vận chuyển XM-571 MONOPAK nhẹ hơn và ít cồng kềnh hơn so với các phiên bản trước, nặng 44 lb (20 kg) khi rỗng và 76 lb (34 kg) khi mang đủ tên lửa so với TRIPAK nặng lần lượt là 68 lb (31 kg) và 164 lb (74 kg). Mỗi thùng MONOPAK chứa toàn bộ vũ khí cộng với ba bộ pin và chất làm mát Freon.[26]
- Air Force RAM − Vào cuối năm 1967, Không quân Hoa Kỳ đã khởi động chương trình Tên lửa phóng từ trên không Redeye (RAM) nhằm phát triển một hệ thống có khả năng theo dõi chính xác các mục tiêu cơ động sau khi được bắn từ máy bay cơ động và bao gồm cả khả năng tầm ngắn. Một số sửa đổi đã được thực hiện để cho phép tên lửa được phóng từ trên không, bao gồm việc nối dây động cơ phóng và động cơ hành trình với nhau để kích hoạt đồng thời và kéo dài cánh đuôi để tăng độ ổn định của khung máy bay. Nó đã được bắn thử từ máy bay F-4 Phantom, nhưng biến thể này đã bị hủy bỏ vì lý do ngân sách và những hạn chế gặp phải khi phóng tên lửa ở tốc độ siêu âm.[27]
- Helicopter RAM − Tên lửa không đối đất thử nghiệm được thiết kế để gắn trên trực thăng. Giống như chương trình RAM của Không quân, các tên lửa được điều chỉnh để phóng trên không bằng cách nối dây động cơ đẩy và động cơ duy trì với nhau. Các sửa đổi khác bao gồm việc lắp đặt thiết bị giao tiếp giữa trực thăng và bệ phóng, và một đầu dò selenua chì (PbSe) được cải tiến. Mặc dù các thử nghiệm đã chứng minh tính khả thi của hệ thống, nhưng Ủy ban thử nghiệm đã khuyến nghị không sử dụng nó trong cấu hình được đánh giá và cần có thêm các nghiên cứu với đầu dò được sửa đổi, nhưng cuối cùng việc phát triển đã bị bỏ dở..[28]
- Navy Redeye − Phiên bản thử nghiệm được thiết kế để sử dụng trên tàu. Các sửa đổi bao gồm kính ngắm tương thích với mũ bảo hiểm và bộ tai nghe của Hải quân Hoa Kỳ , và tấm chắn bức xạ điện từ. Mặc dù chương trình đã thành công, nhưng cuối cùng Hải quân đã không mua bất kỳ tên lửa nào.[29]
So sánh
[sửa | sửa mã nguồn]| Hệ thống | 9K32M Strela-2M
(tên lửa: 9M32M) |
9K34 Strela-3
(tên lửa: 9M36) |
FIM-43C Redeye |
|---|---|---|---|
| Năm đi vào trang bị | 1970 | 1974 | 1968 |
| Khối lượng toàn bộ hệ thống | 33 lb (15 kg) | 35 lb (16 kg) | 29 lb (13 kg) |
| Khối lượng tên lửa | 20,2 lb (9,15 kg) | 23 lb (10,3 kg) | 18 lb (8,2 kg) |
| Chiều dài | 59 in (1,5 m)[30] | 59 in (1,5 m)[31] | 49,7 in (1,26 m) |
| Khối lượng đầu đạn | 2,6 lb (1,17 kg) | 2,4 lb (1,1 kg) | 4,4 lb (2 kg)[3] |
| Kiểu đầu đạn | Nổ mạnh văng mảnh[30] | Nổ mạnh văng mảnh[31] | Nổ mạnh văng mảnh (M222)[3] |
| Kiểu tiếp cận mục tiêu | Bám đuôi[31] | Có khả năng tiếp cận mục tiêu từ bán cầu phía trước
một cách hạn chế (mọi hướng) |
Có khả năng tiếp cận mục tiêu từ bán cầu phía trước
một cách hạn chế (Mọi hướng)[18] |
| Kiểu đầu dò | Làm mát bằng bơm nhiệu điện
Đầu dò hồng ngoại PbS (độ nhạy khoảng 1–2,8 μm). |
Làm mát bằng Ni tơ lỏng
Đầu dò hồng ngoại PbS (độ nhạy trong dải sóng 3,5–5 μm). |
Làm mát bằng Freon[3]
Đầu dò hồng ngoại PbS[18] |
| Phạm vi tấn công | 2.600–13.800 ft (800–4.200 m) | 1.600–14.800 ft (500–4.500 m) | 1.600–18.000 ft (500–5.500 m)[3] |
| Tốc độ của tên lửa | 960 mph (1.550 km/h) | 890 mph (1.440 km/h) | 1.217,9 mph (Mach 1,6)[chuyển đổi: tùy chọn không hợp lệ][3] |
| Độ cao tấn công | 160–7.550 ft (50–2.300 m) | 160–9.840 ft (50–3.000 m) | ?−8.900 ft (2.700 m)[3] |
| Nguồn tham khảo | [32] | [33] | [4] |
Lịch sử
[sửa | sửa mã nguồn]Năm mươi hệ thống Redeye đã được Hoa Kỳ cung cấp cho lực lượng mujahideen Afghanistan để thử nghiệm trong Chiến tranh Liên Xô-Afghanistan năm 1984,[34] tại đây chúng được lực lượng quân khủng bố sử dụng để chống lại các máy bay cường kích Sukhoi Su-25, cũng như các loại máy bay trực thăng Mil Mi-24 và Mi-8.[35] Đến tháng 11 năm 1986, nó phần lớn đã được thay thế bằng tên lửa FIM-92 Stinger hiệu quả hơn nhiều.
Trong Chiến tranh giành độc lập Guinea-Bissau, Bồ Đào Nha đã nhiều lần cố gắng mua Redeyes để tăng cường phòng thủ ở Guinea thuộc Bồ Đào Nha, nhưng do lệnh cấm vận vũ khí của Mỹ, những nỗ lực này cuối cùng đã thất bại.[36]
Tất cả tên lửa Redeye đều được Bộ Tư lệnh Tên lửa Lục quân Hoa Kỳ đánh số và kiểm kê để ngăn chúng biến mất hoặc bị mất mát mà không được phát hiện.[37] Không có tên lửa Redeye nào được báo cáo là bị mất hoặc bị đánh cắp khỏi kho của Lục quân,[38] nhưng tháng 1 năm 1974, hệ thống FIM-43 được trang bị cho quân đội Bỉ đã bị đánh cắp, dẫn đến việc bắt buộc phải tăng cường các biện pháp an ninh tại các sân bay lớn ở Tây Âu và Anh.[39]
Redeye được biết đến với tên gọi Hamlet trong biên chế của Đan Mạch và RBS 69 (Robot 69) trong biên chế của Thụy Điển. Trong biên chế của Tây Đức, hệ thống này được đặt tên là Fliegerfaust-1 hoặc FLF-1[3]
Tên lửa Redeye do Mỹ cung cấp cho FDN (Lực lượng dân chủ Nicaragua) cũng được lực lượng "Contras" Nicaragua sử dụng để bắn hạ ít nhất bốn máy bay trực thăng Mil Mi-8 của Liên Xô trong cuộc Cách mạng Nicaragua.
Các nước trang bị
[sửa | sửa mã nguồn]
Former
[sửa | sửa mã nguồn]Non-state former
[sửa | sửa mã nguồn]
mujahideen[3]
Lực lượng vũ trang miền Bắc (FAN)[40]
Contras[3][41]
Farabundo Martí National Liberation Front (FMLN)[3]
Portugal − Đã tiếp cận và dự định mua FIM-43C nhưng Hoa Kỳ đã không cho phép bán tên lửa cho Bồ Đào Nha do Chiến tranh thuộc địa Bồ Đào Nha[36]
Xem thêm
[sửa | sửa mã nguồn]Ghi chú
[sửa | sửa mã nguồn]- ↑ Merged with other subdivisions to form Sperry Surface Armament Division later that year.
Tham khảo
[sửa | sửa mã nguồn]Citations
[sửa | sửa mã nguồn]- 1 2 3 4 Zaloga 2023, tr. 16.
- ↑ Zaloga 2023, tr. 46.
- 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 Cullen & Foss 1996, tr. 36.
- 1 2 Department of the Army 1984, tr. 1-12.
- ↑ STINGER: Redeye Missile Replacement Being Developed for 1980s, Army Research and Development, October–November 1972, 13 (7):18.
- ↑ "Meet the Missile That Started the MANPADS Craze". ngày 29 tháng 3 năm 2015.
- ↑ Cagle 1974, tr. 1.
- 1 2 Cagle 1974, tr. 2.
- ↑ Cagle 1974, tr. 4.
- 1 2 Cagle 1974, tr. 6.
- 1 2 Cagle 1974, tr. 8.
- 1 2 Zaloga 2023, tr. 13.
- ↑ Cagle 1974, tr. 15-17.
- ↑ REDEYE II SOLE SOURCE PROCUREMENT, Statement of Lt. Col. James E. Linka, Office, Chief Research and Development, Department of the Army, Hearings on S. 3108, March 10, 1972, p. 3701.
- ↑ Cagle 1974, tr. 15−16.
- ↑ Cagle 1974, tr. 17.
- ↑ Redstone Arsenal Historical Information: Redeye Background and System Chronology, U.S. Army Aviation and Missile Command Official Web-site. Verified 05.12.2017
- 1 2 3 Zaloga 2023, tr. 14.
- ↑ Zaloga 2023, tr. 13−14.
- 1 2 3 4 5 Zaloga 2023, tr. 15.
- 1 2 History of the Redeye Weapon System (PDF). Historical Division Army Missile Command. 1974. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 29 tháng 3 năm 2016. Truy cập ngày 16 tháng 9 năm 2015.
- ↑ Zaloga 2023, tr. 14−15.
- ↑ Cagle 1974, tr. 125,127.
- ↑ Cagle 1974, tr. 129.
- ↑ Cagle 1974, tr. 133.
- ↑ Cagle 1974, tr. 132−133.
- ↑ Cagle 1974, tr. 157,159.
- ↑ Cagle 1974, tr. 159−160.
- ↑ Cagle 1974, tr. 160−161.
- 1 2 Cullen & Foss 1996, tr. 11.
- 1 2 3 Cullen & Foss 1996, tr. 9.
- ↑ Zaloga 2023, tr. 22.
- ↑ Zaloga 2023, tr. 22−23.
- ↑ "SIPRI Arms Transfers Database". Bản gốc lưu trữ ngày 5 tháng 8 năm 2009. Truy cập ngày 31 tháng 8 năm 2009.
- ↑ Sukhoi Su-25 Frogfoot: Described / SU-25 In Afghanistan Lưu trữ ngày 3 tháng 2 năm 2007 tại Wayback Machine airtoaircombat.com
- 1 2 Hurley & Matos 2023, tr. 110−111.
- ↑ Hearings on thefts and losses of military weapons, November 1975, p. 74.
- ↑ Hearings on thefts and losses of military weapons, November 1975, p. 57.
- ↑ For SA-7 read Redeye?, Flight International, 17 January 1974, 105 (3384):91.
- ↑ Berman 2005, tr. 316.
- ↑ Kinzer, Stephen (ngày 23 tháng 7 năm 1987). "Sandinistas report capture of RedEye Missile". The New York Times. Bản gốc lưu trữ ngày 8 tháng 3 năm 2016. Truy cập ngày 30 tháng 4 năm 2010.
Sources cited
[sửa | sửa mã nguồn]- Berman, Eric G. (2005). "Chapter 11. The Central African Republic: A Case Study of Small Arms and Conflict". Small Arms Survey 2005: Weapons at War (PDF) (bằng tiếng Anh) (ấn bản thứ 1). Oxford: Oxford University Press. tr. 303–327. ISBN 978-0-19-928085-8. Truy cập ngày 26 tháng 4 năm 2025.
- Cagle, Mary T. (ngày 23 tháng 5 năm 1974). History of the Redeye Weapon System (PDF). Redstone Arsenal, U.S. Army Missile Command. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 22 tháng 2 năm 2004.
- Cullen, Tony; Foss, Christopher F, biên tập (1996). Jane's Land-Based Air Defence, 1996−97 (ấn bản thứ 9). Surrey: Jane's Information Group. ISBN 978-0-7106-1352-3.
- Department of the Army, Headquarters (1984). FM 44-1-2 Air Defense Artillery Reference. Washington, D.C.: U.S. Government Printing Office. Truy cập ngày 27 tháng 4 năm 2025.
- Hurley, Matthew M.; Matos, José (2023). Sanctuary Lost: Portugal's Air War for Guinea 1961−1974: Volume 2 - Debacle to Deadlock, 1966−1972 (bằng tiếng Anh). Helion and Company. ISBN 978-1-80451-516-7.
- Zaloga, Steven J. (2023). Infantry Antiaircraft Missiles: Man-Portable Air Defense Systems (bằng tiếng Anh). Bloomsbury Publishing. ISBN 978-1-4728-5345-5.
